Chinh Phụ Ngâm bị lục
Chinh Phụ Tự Tình
Chinh Phụ Tử
Bài văn tế cụ Phan Châu Trinh của cụ Phan Bội Châu
Nam Nữ Đôi Ca
Vọng Phu

Creator:
Đặng Trần Côn
Published/Created:
ca. 1946-1956
Notes:
The book contains several poems written by different authors: Chinh Phụ Ngâm Bị Lục by Đặng Trần Côn, Chinh Phụ Tự Tình, Chinh Phụ Tử, Bài văn tế cụ Phan Châu Trinh của cụ Phan Bội Châu, Nam Nữ Đôi Ca, Vọng Phu.
The Chinh phụ ngâm ("Lament of the soldier's wife") is a poem written in classical Chinese (Hán) by the Vietnamese author Đặng Trần Côn. It is also called the Chinh phụ ngâm khúc, with the additional -khúc ("tune") emphasizing that it can be performed as a musical piece not just read as a plain "lament" (ngâm). It is an inner monologue of a wife who goes through loneliness, sadness, fear, desperation and hope when her husband is away in the battle. It is a story of one person but it is also a crying of many generations who live in the long lasting wars and share the same desire for peace. Chinh Phụ Ngâm was translated into Nôm by several translators: Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khản, Bạch Liên Am Nguyễn and 2 anonymous translators. For the time being, there are 7 translation versions , 3 versions in 6-8 verses ( lục bát), 4 versions in 7-7-6-8 verses ( song thất lục bát). The most popular version that includes 412 sentences in 7-7-6-8 verses is believed to belong to Đoàn Thị Điểm. However, according to many researchers, the author of this version is Phan Huy Ích. Đoàn Thị Điểm ( 1705-1748, pseudonym is Hồng Hà Nữ Sĩ) was born in Giai Phạm village, Văn Giang district, Kinh Bắc province ( now belong to Yên Mỹ district, Hưng Yên province). Her father Đoàn Doãn Nghi ( 1678-1729) was a teacher and a physician working with Chinese herbal medicine. Đoàn Thị Điểm was well known as a beautiful, educated and talented woman. Most of her adult life, she lived with her father and her brother’s family. After her father and then her brother passed away, she inherited the business, refused to get married in order to stay home to support her mother and her brother’s survivors. She got married at age 37 with a windower Nguyễn Kiều who was a highly intellectual scholar and was a royal official. However, right after getting married, her husband was on an diplomatic assignment to China for 3 years. According to the most updated Vietnamese Literature Dictionary, she translated Chinh Phụ Ngâm during this time. She passed away at age 43 due to illness. Đoàn Thị Điểm is considered to be one of the most acclaimed female writers in Vietnamese literary history. Besides the Nôm translation of Chinh Phụ Ngâm, she is the author of Truyền Kỳ Tân Phả. She is not only well known for her intelligence but also for her beauty and virtue . Phan Huy Ích ( 1751-1822, child name is Phan Công Huệ, grown up name is Khiêm Thụ Phủ, Chi Hòa, pseudonym is Dụ Am, Đức Hiên) was born in Thu Hoạch village, Thiên Lộc district, Nghệ An province ( now belong to Thạch Châu ward, Lộc Hà district, Hà Tĩnh province). At age 20 ( 1771), he got the highest score in “ thi Hương”. At age 24 ( 1775), he got the highest score in “ thi Hội”. From 1771 to 1787, he was appointed to different positions, in charged of security, court trial in Thanh Hóa. At the end of 1787, after Quang Trung took over the control of Thăng Long capital from Trịnh-Lê, the new Emperor wanted to recruit the talented people. Phan Huy Ích, together with some other former officials, were invited to work for the new Government. From 1788 to 1802, he worked for Quang Trung Emperor and was assigned to go to China for 2 years ( 1790-1792). In 1802, Nguyễn Ánh overthrew Quang Trung’s reign. Phan Huy Ích was arrested and punished. He was then released and withdrew to Sài Sơn, lived a quiet life for 20 years until he passed away in 1822. During this time, he translated Chinh Phụ Ngâm into Nôm. Besides this translation, he composed many valuable literary works such as “Lịch triều điền cố”, “Dụ am văn tập”, “Nam trình tạp vịnh”, “Cẩm rình kỷ hứng”, “Cúc thu bách vịnh”…
Chinh Phụ Ngâm ( khúc ngâm của người Chinh Phụ) là một bài thơ chữ Hán được viết bởi thi sĩ Đặng Trần Côn. Tác phẩm còn được gọi là “ Chinh phụ ngâm khúc” nhằm nhấn mạnh khía cạnh âm nhạc của nó, tức là bài thơ có thể ngâm như một khúc ca. Bài thơ là lời độc thoại của người chinh phụ phải trải qua nỗi cô đơn, sầu thảm, sợ hãi, hy vọng rồi lại tuyệt vọng, ngày đêm mong chờ người chồng từ chiến trận trở về. Đây là tâm sự của một người vợ nhưng đồng thời cũng nói lên tiếng khóc của nhiều thế hệ con người phải sống trong cảnh chiến tranh kéo dài liên miên cũng như lòng mong mỏi hòa bình của họ. Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn được dịch sang chữ Nôm bới nhiều dịch giả: Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Nguyễn Khan, Bạch Liên Am Nguyễn và 2 dịch giả vô danh. Cho đến nay người ta tìm thấy 7 phiên bản dịch thuật, 3 bản lục bát và 4 bản song thất lục bát. Phiên bản phổ biến nhất bao gồm 412 câu song thất lục bát được cho là thuộc về Đoàn Thị Điểm. Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu, tác giả của phiên bản này là Phan Huy Ích Đoàn Thị Điểm (1705-1748, bút danh là Hồng Hà Nữ Sĩ) sinh ra ở làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Kinh Bắc (nay thuộc về huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Cha của bà là Đoàn Nghi (1678-1729), một thầy giáo dạy học kiêm thầy lang. Bà nổi tiếng thông minh, đẹp người, đẹp nết, chăm học, có tài văn và giỏi cả việc nữ công. Phần lớn thời gian khi còn trẻ bà sống với cha và gia đình người anh trai. Sau khi cha và anh qua đời, bà tiếp quản công việc của cha, từ chối không lấy chồng, ở nhà làm việc giúp mẹ và gia đình chị dâu. Mãi đến năm 37 tuổi, bà mới kết hôn với Nguyễn Kiều, một tiến sĩ nổi tiếng hay chữ đã góa vợ. Nhưng vừa cưới xong, Nguyễn Kiều lại phải đi sứ sang Trung Quốc ba năm. Theo Từ điển văn học (bộ mới), có lẽ trong thời gian xa chồng này bà đã dịch ra quốc âm tập thơ Chinh phụ ngâm của danh sĩ Đặng Trần Côn. Bà qua đời ở tuổi 43 do bệnh tật. Đoàn Thị Điểm được coi là một trong những nhà văn nữ nổi tiếng nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Bên cạnh bản dịch Nôm Chinh Phụ ngâm, bà là tác giả của Truyền Kỳ Tân Phả. Bà không chỉ nổi tiếng vì trí thông minh mà còn vì vẻ đẹp và đức hạnh. Phan Huy Ích (1751-1822, tên lúc nhỏ là Phan Công Huệ, tự là Khiêm Thụ Phủ, Chí Hòa, bút danh là Du Am, Đức Hiền) sinh ra làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là thuộc phường Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 20 tuổi ( 1771) ông đỗ Giải Nguyên ( đỗ đầu thi Hương), năm 24 tuổi ( 1775), ông đỗ Hội Nguyên ( đỗ đầu thi Hội) rồi từ đó đảm nhiệm những chức vụ khác nhau ở Thanh Hóa, phụ trách ăn ninh, xét xử... Cuối năm 1787, quân Tây Sơn ra Bắc Hà lần thứ hai. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu. Phan Huy Ích bỏ lên Sài Sơn (Sơn Tây), chấm dứt 14 năm làm quan với chính quyền vua Lê - chúa Trịnh. Sau khi tiếp quản Thăng Long, vua Quang Trung muốn tuyển dụng người tài. Phan Huy Ích, cùng với một số quan chức khác thời nhà Lê, được mời làm việc cho Chính phủ mới. Từ 1788 đến 1802, ông làm việc cho hoàng đế Quang Trung trong đó có 2 năm đi sứ ở Trung Quốc ( 1790-1792). Năm 1802, Nguyễn Ánh lật đổ triều đại Quang Trung. Phan Huy Ích bị bắt và bị trừng phạt. Sau khi được tha, ông rút về Sài Sơn, sống một cuộc sống ẩn dật trong 20 năm cho đến khi qua đời vào năm 1822. Trong thời gian này, ông đã dịch Chinh Phụ ngâm vào Nôm. Bên cạnh bản dịch này, ông sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị văn học như “Lịch triều điền cố”, “Dụ am văn tập”, “Nam trình tạp vịnh”, “Cẩm rình kỷ hứng”, “Cúc thu bách vịnh”…
Topics:
Vietnam--Literatures
Topics:
Durand, Maurice M
Accession Number:
2.0005.004
Box:
5
Folder:
4
Language:
Vietnamese
Genre:
manuscripts (AAT)
Format:
Text
Content Type:
Archives or Manuscripts
Rights:
Copyright status for collection materials is unknown. See finding aid for additional information.
Copyright status for collection materials is unknown. See finding aid for additional information.
The use of this image may be subject to the copyright law of the United States (Title 17, United States Code) or to site license or other rights management terms and conditions. The person using the image is liable for any infringement.
Source Title:
Maurice Durand Papers: Series II: Han Nom texts with Vietnamese
Call Number:
MS 1728
Yale Collection:
Manuscripts and Archives
Digital Collection:
Maurice Durand Han Nom
oid pointer:
10693050
OID:
10693454
PID:
digcoll:4376

Number of Pages: 100
256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:4376&ip=54.90.92