Sãi Vãi (AB.383)

Creator:
Nguyễn Cư Trinh
Published/Created:
ca. 1946-1956
Notes:
The book contains several poems written by different authors: Sãi Vãi (AB.383, written by Nguyễn Cư Trinh); Vịnh Kiều Tập Tự ( AB.383, written by Chu Mệnh Trinh); Bài Ca Tình Cảnh Nông Phu; Bài Ca Vợ Khuyên Chồng; Bài Hát Tứ Đại Cảnh; Bài Hát Nam Thương.
Sãi Vãi was written in 1750 by Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) when he was appointed to be the Governor of Quảng Ngãi. The poem was born in a circumstance when there was a group of minorities who lived in the mountainous areas of Quảng Ngãi, due to the harsh ruling of Nguyễn Lord, rebelled against the government. Nguyễn Cư Trinh was assigned to lead the royal army to suppress the rebellion. However, some soldiers, who were tired of fighting abandoned their duties to become monks. This poem, through a conversation between two monks criticizes those who are coward, selfish, greedy, unfaithful, lack of loyalty and encourage those who are responsible of their assigned works. The poem includes 640 sentences, pair up in different lengths and rhyme to each other. The combinations between casual and formal, witty and eloquent styles make the poem vivacious, cheerful and still full of moralities. Nguyễn Cư Trinh was born in An Hòa village, Hương Trà district, Thuận Hóa province (now is An Hòa ward, Huế city, Thừa Thiên Huế province). His family had a long tradition of literature study and his ancestors were loyal officials. In 1740, he passed the imperial examination and since then was appointed to different positions to oversee some areas in central part of Vietnam. He even helped the Nguyễn Lord to expand the territory to the South. Not only was he an army leader but also he was a poet, a writer. All his literary works is the reflection of his military career. Some poems are exciting, passionate, some are sad, depressive. It is the contradiction inside Nguyễn Cư Trinh as being a loyal soldier who vows to serve the Emperor but a mindful, lonely man who sees the hardship the ordinary people experience everyday.
Sãi Vãi được viết vào năm 1750 bởi Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) trong thời gian ông giữ chức Thống đốc Quảng Ngãi. Bài thơ được sinh ra trong bối cảnh một nhóm dân tộc thiểu số sống ở khu vực miền núi Quảng Ngãi, do những chính sách thuế má khắc nghiệt của chúa Nguyễn đã nổi dậy chống lại chính phủ. Nguyễn Cư Trinh được cử làm tướng lãnh đạo quân đội triều đình để đàn áp cuộc nổi dậy này. Tuy nhiên có một số binh sĩ do mệt mỏi với những cuộc chiến đấu triền miên đã tìm cách đào ngũ đi tu. Bài thơ Sãi Vãi ghi lại cuộc trò chuyện giữa hai nhà sư, thông qua đó chỉ trích những kẻ hèn nhát, ích kỷ, tham lam, không chung thủy, thiếu lòng trung thành, đồng thời đề cao những phẩm chất tốt đẹp của một người lính dũng cảm và có trách nhiệm. Bài thơ bao gồm 640 câu thơ với độ dài ngắn và vần điệu khác nhau. Sự kết hợp giữa phong cách vừa giản dị vừa nghiêm túc , vừa dí dỏm vừa hùng hồn làm cho bài thơ hoạt bát, vui vẻ mà chứa đầy đạo lý. Nguyễn Cư Trinh ( 1716-1767) sinh ra tại xã An Hòa, huyện Hương Trà, tỉnh Thuận Hóa (nay là phường An Hòa, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế). Là con út trong gia đình có truyền thống văn học, ngay từ nhỏ Nguyễn Cư Trinh đã nổi tiếng hay chữ. (Sau này, khi Nguyễn Phúc Khoát lên ngôi chúa, những luật lệ đều do Nguyễn Đăng Thịnh đặt ra mà văn từ thì do Nguyễn Cư Trinh thảo ). Năm 1740, ông thi đỗ Hương cống, được bổ làm Tri phủ Triệu Phong xứ Thuận Hóa (vùng đất thuộc cả Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế), rồi trải qua các chức Tuần phủ Quảng Ngãi (Canh Ngọ [1750]), Ký lục dinh Bố Chánh (Quảng Bình), sau đến Lại bộ Kiêm Tào vận sứ, tước Nghi Biểu hầu. Ông còn giúp chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ về phía nam. Ông không chỉ là một nhà lãnh đạo quân sự mà còn là một nhà thơ, nhà văn. Phần lớn các tác phẩm văn học của ông phản ánh những diễn biến trong suốt thời gian ông làm tướng. Một số bài vui vẻ, đầy nhiệt huyết, một số bài buồn, trầm lắng. Đó cũng chính là mâu thuẫn bên trong con người Nguyễn Cư Trinh, một người trung thành với triều đình, cố gắng làm tròn bổn phận của mình nhưng đồng thời cũng cảm thấy cô đơn bởi thấu hiểu những nỗi thống khổ mà người dân đang hàng ngày phải trải qua.
Topics:
Vietnam--Literatures
Topics:
Durand, Maurice M
Accession Number:
2.0007.038
Language:
Vietnamese
Genre:
manuscripts (AAT)
Format:
Text
Content Type:
Archives or Manuscripts
Rights:
Copyright status for collection materials is unknown. See finding aid for additional information.
Copyright status for collection materials is unknown. See finding aid for additional information.
The use of this image may be subject to the copyright law of the United States (Title 17, United States Code) or to site license or other rights management terms and conditions. The person using the image is liable for any infringement.
Source Title:
Maurice Durand Papers: Series II: Han Nom texts with Vietnamese
Call Number:
MS 1728
Box:
7
Folder:
38
Yale Collection:
Manuscripts and Archives
Digital Collection:
Maurice Durand Han Nom
oid pointer:
10714956
OID:
10715536
PID:
digcoll:197092

Number of Pages: 88
256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103 256.jpg?authroot=findit.library.yale.edu&parentfolder=digcoll:197092&ip=54.196.103